Việt Nam Có Bao Nhiêu Họ?

Từ trước khi sinh ra cha mẹ đã có dự định đặt cho ta một cái tên gọi rồi. Đến khi chào đời, mỗi đứa trẻ sẽ có một tờ giấy khai sinh – giống như  thông cáo chúng ta đã có mặt trên cuộc đời này vậy.

Trong giấy khai sinh đó sẽ nêu rõ họ tên của ta, của cha và của mẹ. Cái tên thì có muôn vàn ý nghĩa với mục đích của đấng sinh thành mong muốn cho ta trở thành con người như thế nào, đạt được điều gì trong cuộc sống. Nhưng còn họ thì đó không phải là điều chúng ta có thể tự ý sáng tạo nên được.

Vậy nên hôm nay tôi sẽ đưa bạn khám phá đến một lĩnh vực tuy quen thuộc nhưng chưa chắc bạn đã hiểu rõ: tìm hiểu về họ và ngoài họ trong tên của các bạn ra, ở Việt Nam còn có bao nhiêu họ nào khác. Nào, cùng đọc tại goctomo.com nhé !

Tùy mỗi nơi, mỗi đất nước, mỗi dân tộc mà có cách đặt tên, sắp xếp họ tên khác nhau. Ở Việt Nam ta, Họ là từ đầu tiên trong tên đầy đủ. Ví dụ:

Phạm Văn Thông:  Người này họ Phạm

Nguyễn Thị Thu Hoài: Người này họ Nguyễn

Lê Minh Tâm: Người này họ Lê

...

Hiểu nôm na, "Họ" là một phần trong cấu trúc tên gọi đầy đủ của một người (Tên đầy đủ của một người bao gồm Họ + Tên Đệm + Tên chính). Họ có ý nghĩa nhỏ hơn dòng họ. Dòng họ là chỉ những người chung huyết thống, có chung "vị thủy tổ". Họ kết hợp với tên đệm đôi khi trở thành một chi.

Đa phần ở nhiều quốc gia trên thế giới, tên của một người sẽ có đầy đủ cả tên và họ. Có quốc gia đặc biệt hơn - một người một tên có thể được đặt tới hai họ, hoặc là hai tên hai họ hoàn toàn khác nhau.

Ngược lại, có một số quốc gia như Iceland, Tây Tạng hay người dân trên đảo Java lại chỉ có tên, không có họ. Có vài hoàng tộc trên thế giới cũng không có họ.

2. Vậy Việt Nam Gồm Những Họ Nào ? Việt Nam Có Bao Nhiêu Họ ?

Theo thống kê mới nhất trong cuốn Họ và tên người Việt Nam thì nước ta có khoảng 1023 họ, trong đó họ của người Kinh chiếm khoảng 300 họ, còn lại là họ của các dân tộc ít người và một số họ hiếm có nguồn gốc từ Trung Quốc.

Trong đó, có 13 họ được đặt khá phổ biến ở Việt Nam bao gồm :

Họ Nguyễn ( đông nhất - chiếm 38,4% ) , họ Trần với khoảng 12,1% , họ Lê có 9,5%, họ Phạm 7%, họ Hoàng ( hay Huỳnh ) có 5,1%... Sau đó là các họ : Phan, Vũ ( Võ ), Đặng, Bùi, Đỗ, Hồ, Ngô, Dương,…

Ngoài ra còn một số họ hiếm như : Thạch, Phùng, Vi, Nông…  nhưng đa phần các họ này, kể cả một số họ ở trên đều có xuất xứ từ Trung Quốc. Vậy nguồn gốc thực sự các họ ở Việt Nam như thế nào, tôi sẽ giải thích sơ bộ ở các phần tiếp theo. Gọi là sơ bộ bởi vì nếu muốn biết nhiều thêm, cụ thể và chi tiết thì phải tìm hiểu lịch sử ở nhiều nơi, nhiều thời kỳ, thậm chí cần đến gia phả của các dòng họ - là một chuyện không phải dễ dàng.

3. Việt Nam Bắt Đầu Có Họ Từ Khi Nào ?

Đã có nhiều thông tin khác nhau cho câu hỏi này. Một số chuyên gia cho rằng xuất phát từ việc vua Phục Hy ở Trung Quốc ( 2582 TCN ) quy định tất cả thần dân phải đặt tên đầy đủ có cả tên và họ, con cháu trong cùng một họ và 3 đời liên tiếp nhau thì không được kết hôn với nhau. Có thể thời vua Hùng, An Dương Vương đã xuất hiện việc đặt họ trong tên của người Việt Nam rồi, với họ Hùng, Thục, Triệu..

Tuy nhiên đã có những quan điểm phản bác lại vì cho rằng thời kỳ ấy chế độ mẫu hệ vẫn còn tồn tại, ngay cả các vua Hùng còn không có tên rõ ràng thì việc có họ là điều không có cơ sở. Thậm chí đến thời đô hộ Bắc thuộc lần thứ nhất, tên của Hai Bà Trưng : Trưng Trắc – Trưng Nhị cũng được đặt theo nghề chăn nuôi tằm của gia đình, không thấy họ Trưng nào cả.

Việc xuất hiện họ trong tên của người Việt Nam được cho là sớm nhất vào thời kì đầu Công nguyên nhưng đã trải qua khá nhiều năm, khi mà các cuộc hôn nhân dị tộc Việt – Hán ngày càng nhiều, với ý định đồng hóa của người Hán muốn người Việt theo chế độ phụ hệ, trong đó tất yếu sẽ có việc đặt họ tên cho con cháu của mình.  Ví dụ là Lý Bí, cha của ông là Lý Toàn –  trưởng bộ lạc, gốc gác ở phía Nam Trung Quốc, bản thân Lý Bí đã là hậu duệ đời thứ bảy. Mẹ ông là Lê Thị Oánh ( người Thanh Hóa ) vậy nên lúc này,  các họ ở Việt Nam có thể đã xuất hiện một cách chính thức.

4. Cách đặt họ của người Việt Nam

Theo nhiều chuyên gia, người Việt Nam đặt họ dựa trên nhiều lí do :

Thứ nhất là sự di cư của người Trung Quốc vào Việt Nam qua nhiều con đường mà khởi điểm là từ thời kì đô hộ Việt Nam một ngàn năm. Việc sinh sống lâu ngày trên đất ta cộng thêm cuộc hôn phối với người Việt nên dần dần có nhiều họ của Việt Nam được lấy theo họ của Trung Quốc, như : Lý, Trương, Phùng..v…v

Thứ hai, thời vua Minh Mạng đã ban họ cho các buôn làng, người dân tộc thiểu số để họ đổi sang họ của người Việt bằng chữ Hán cho dễ đọc. Ví dụ năm 1827, ở tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị các dân tộc thiểu số buộc phải đổi lại một số họ như : Thạch, Hướng, Khâu, Lãnh, Lâm, Sơn, Thiết… Năm 1837, vua lại bắt người Chăm đổi sang các họ : Lưu, Huỳnh, Hàn, Nguyễn, Trương, Châu, …

Thứ ba, các họ cũ có thể sinh ra họ mới. Như họ nhà ông tổ Nguyễn Bặc ( ông là thủy tổ của họ Nguyễn và là công thần của nhà Đinh ) vì một số lí do lại có thêm các họ khác như Nguyễn Hựu, Nguyễn Phúc, Tôn Thất, Tôn Nữ, Công Tằng Tôn Nữ… đây hầu như là các họ trong hoàng tộc triều Nguyễn sau này.

Thứ tư, vẫn có một số họ ở các vùng thiểu số được tù trưởng đặt cho dân chúng. Các họ này xuất phát từ tiếng nói riêng nhưng được đọc bằng chữ Nôm thuần Việt cho dễ nhớ. Ví dụ như Đèo, Lò, Teo, Ma… là những họ chỉ có ở các vùng Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn….

Thứ năm, việc đổi họ để tránh phạm húy. Ví dụ họ Hoàng còn có một họ khác là họ Huỳnh , hoặc là Vũ hay Võ, Chu hay Châu… những họ này cùng một họ với nhau nhưng vì sao lại được tách ra làm hai như vậy ? Là bởi vì thời phong kiến,  có một số họ đã phạm húy ( giống với họ của hoàng tộc ) . Đã là họ húy hay tên húy thì cấm kỵ không được gọi ra, cho nên dân thường nếu có họ giống như trên thì buộc phải gọi tránh sang một họ khác có cách phát âm gần giống như vậy.

Thứ sáu, đổi sang họ khác để tránh bị diệt vong. Điều này đã diễn ra rất nhiều trong lịch sử nước ta. Trần Thủ Độ bắt con cháu nhà họ Lý phải đổi sang họ Nguyễn với lí do tổ tiên nhà Trần cũng mang họ Lý. Triều Mạc sau khi sụp đổ con cháu của họ chạy loạn cũng lần lượt đổi sang các họ như Lý, Trần, Nguyễn, Trịnh… để tránh bị truy sát. Triều Nguyễn khi tiêu diệt nhà Tây Sơn cũng khiến con cháu những người từng theo vua Quang Trung – Nguyễn Huệ cũng phải đổi họ để tránh bị truy cùng giết tận.

Kết Luận

Mỗi người khi mang họ đều mang cả gốc tích, nguồn cội của cả một dòng tộc, thậm chí có một số họ còn có vai trò quan trọng trong lịch sử của nước nhà. Biết đâu họ của một người nào đó tuy không đẹp nhưng đằng sau đó lại là cả một câu chuyện dài từ xa xưa với những sự kiện hào hùng thì sao?. Vậy nên, trân trọng họ tên mà thân sinh đã đặt cho cũng là một hành động yêu quý lịch sử theo cách của riêng mình.

Tác giả: Phương Thụ

Leave a Comment: